Thứ bảy, Tháng mười hai 6, 2025

Vụ án hình sự kêu oan: Hòn đá ném vòng cung

Hoat dong to tung e1752889719858

“Án kêu oan” là các vụ án hình sự mà đối tượng Bị can/Bị cáo có lời khẳng định mình không phạm tội và việc điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bị can/bị cáo đó là một niềm oan đối với họ. Sau đây là một vụ án thực tế mà chúng tôi đã được tham gia giải quyết, nhưng được giản lược tình tiết và bảo mật những thông tin của những người tham gia vụ án.

Nội dung vụ án

Nội dung vụ án được bắt đầu vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/8/2016, khi Người bị hại (anh Nguyễn Văn XXX) điều khiển ô tô tải biển kiểm soát 30L-ZZZZ đến nơi thường đỗ xe qua đêm ở bên phải đường dẫn dân sinh phía trước đối diện bên kia đường so với nhà Bị cáo.

Đọc thêm: Hoạt Động Tố Tụng Dân Sự có 04 thủ tục chính

Nhà Bị cáo lúc này đang tổ chức ăn giỗ và để một số xe mô tô cũng bên kia đường và làm vướng chỗ đỗ xe của Người bị hại nên không đỗ xe oto vào chỗ thường ngày. Hai bên theo đó xảy ra mâu thuẫn cãi vã.

Người bị hại sau đó đã điều khiển xe ô tô quay đầu, đỗ sang trước cửa nhà Bị cáo, chắn toàn bộ lối ra vào của ngôi nhà Bị cáo và hai bên tiếp tục cãi vã, lời qua tiếng lại.

Trong lúc đang ngồi trong ca bin xe ở vị trí chắn lối ra vào của ngôi nhà Bị cáo, Người bị hại bị một cục gạch bê tông khô, cứng, kích thước (15 x 07 x 06)cm bay thẳng vào người làm vỡ kính cửa cánh xe bên lái và kính chắn gió phía ca bin lái, gây thương tích cho bị hại.

Vụ việc sau đó được Công an phường lập biên bản lấy lời khai mọi người có mặt tại hiện trường vào cùng ngày (23/08/2016) vào lục 20 giờ 30 phút – tức sau 1 giờ đồng hồ. Tất cả mọi người quanh hiện trường đều khẳng định không xác định được ai là người thực hiện hành vi ném cục bên tông. Biên bản hiện trường do Công an phường lập xác định: cánh cửa kính bên trái bị vỡ tung ra và kính nhòm ra sau vỡ tung ra; Chiếc kính ở cửa phía lái bên trái vỡ, chiều dài khoảng 80 phân, chiều rộng khoảng 70 phân. Kính cửa nhìn ra sau, chiều dài một chiều 30 x 70 cm. Trong ca bin xe nơi phanh chân có 01 cục gạch xi măng.

Hai ngày sau (25/08/2016), Người bị hại có đơn trình báo khẳng định Bị cáo là người nhặt 01 viên gạch bê tông đi ra xe tôi tay trái mở cửa, tay phải cầm viên gạch đập hướng về phía mặt bị hại may mà có kính phía lái đã kịp kéo lên bị vỡ viên gạch bay vào mũi bị hại và làm vỡ kính hậu phía sau. Bị hại sau đó bị ngất, Bị cáo còn kéo túm cổ áo tôi lôi xuống đường khiến bị hại bị ngã đầu gối phải bị đập xuống đường bị chấn thương.

Ngày 16/09/2016, Kết quả giám định thương tích của Trung tâm pháp y xác định thương tích gây lên là 12%.

Ngày 26/09/2016, Vụ án được khởi tố. Ngày 19/12/2016, khởi tố bị can. Và, 26/12/2016, Bị cáo bị bắt tạm giam. Và ngày 30/12/2016, Bị cáo có lời khai nhận tội. Tuy nhiên, gia đình Bị cáo và các nhân chứng là hàng xóm liền kế với gia đình Bị cáo vẫn nhất mực kêu oan cho Bị cáo và quả quyết người thực hiện hành vi phạm tội là người khác.

Đến ngày 25/01/2017, người Bị cáo liên hệ và ký hợp đồng thuê luật sư Bào chữa cho Bị cáo.

Các hoạt động nghiệp vụ của Luật sư

Thời điểm Luật sư tham gia tố tụng là Bị cáo đã có lời khai nhận tội chỉ sau 04 ngày tạm giam. Hơn nữa, do hợp đồng dịch vụ là do người nhà của Bị cáo ký lập, nên việc tiếp cận Bị cáo sẽ gặp nhiều khó khăn, cản trở.

Với công cụ gây thương tích là hung khí nguy hiểm và mức thương tích 12%, Bị cáo sẽ đối mặt với khung hình phạt từ 2 năm đến 06 năm tù theo khoản 2 Điều 134, Bộ luật Hình sự 2015 (có hiệu lực tại thời điểm tham gia tố tụng). Mặt khác diễn biến vụ án diễn nhanh, nhưng xảy ra ở khu vực đông người, dãy nhà tập thể có thể sẽ có nhiều người sẽ cùng chứng kiến sự việc.

Từ những đánh giá ban đầu Luật sư đã thực hiện các công việc cụ thể:

  1. Đăng ký bào chữa: do bị can khi đó đang bị bắt tạm giam và liên tục có lời khai từ chối mời luật sư, nên việc đăng ký bào chữa của Luật sư không được thực hiện. Sau nhiều ngày đề nghị và thông tin việc gia đình đang kêu oan thì việc đăng ký bào chữa của Luật sư mới được hoàn thành.
  2. Đăng ký gặp mặt, tiếp xúc bị can trong trại tạm giam và các buổi lấy lời khai của Bị can, Bị cáo: Tại các buổi gặp mặt, tiếp xúc bị can/bị cáo trong trại tạm giam, luật sư đã thông tin tới người bị tạm giam tình hình đời sống hiện tại của gia đình; các lời nhắn nhủ động viên của người thân muốn nói với Bị can/bị cáo. Bên cạnh đó, Luật sư cũng đưa ra phân tích, đánh giá nhận định về nội dung diễn biến của vụ án theo từng lời tưởng thuật của những người tự nhận là chứng cứ được một phần hoặc toàn bộ sự việc của vụ án; đánh giá phân tích mục tiêu tôn trọng sự thật của vụ án, đánh giá các chứng cứ vật chất, lời khai người làm chứng, lời nhận tội của Bị can/bị cáo và khung hình phạt có thể được áp dụng theo quy định của pháp luật. Bị can/bị cáo sau khi tiếp xúc làm việc với Luật sư đã thay đổi lời khai (từ nhận tội sang kêu oan, khẳng định hành vi phạm tội là của người khác) – chính vì sự thay đổi này mà Luật sư cũng đã phải chịu áp lực từ phía Cơ quan tố tụng khi cho rằng Luật sư cản trở điều tra, “dụ dỗ” bị can/bị cáo thay đổi lời khai trước đó.
  3. Xác định nhân chứng chứng kiến vụ việc và xác định lời khai các nhân chứng liên quan: Vụ án sau đó có tất cả 28 nhân chứng tham gia khai báo tại Tòa. Trong đó, có 02 nhân chứng trực tiếp do gia đình Bị hại cung cấp khai báo trực tiếp thấy Bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích; và 05 nhân chứng trực tiếp do gia đình Bị cáo cung cấp khai báo khẳng định người thực hiện hành vi đáp đá không phải là bị cáo, mà tố giác một người khác. Giữa các lời khai của chính mỗi nhân chứng hoặc giữa các nhân chứng với nhau cũng có nhiều nội dung mâu thuẫn, không trùng khớp.
  4. Nhận, nghiên cứu và có ý kiến phản biện đối với Bản kết luận điều tra của Cơ quan Điều tra: Theo đó, Luật sư đã viết bản kiến nghị, khiếu nại đề nghị làm rõ các nội dung tình tiết chưa được làm rõ trong nội dung bản kết luận điều tra; đề nghị bổ sung các hoạt động tố tụng để làm sáng tỏ sự thật của vụ án như: vấn đề thực nghiệm hiện trường, đánh giá góc nhìn, quan sát của từng nhân chứng có mặt tại hiện trường hoặc nhận là có mặt ở hiện trường, đánh giá khả năng di chuyển, thực hiện hành vi của Bị can/bị cáo theo từng kịch bản lời khai, bổ sung nhân chứng mới .v.v.
  5. Tham gia hoạt động thực nghiệm điều tra, xác định hiện trường của Cơ quan Điều tra.
  6. Nhận, nghiên cứu và có ý kiến phản biện đối với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát.
  7. Tư vấn hỗ trợ gia đình bị cáo thực hiện các quyền tố tụng như: kiến nghị, khiếu nại, tố cáo sai phạm trong quá trình chứng minh hành vi tội phạm; thực hiện các quyền thăm gặp bị can, bị cáo; quyền đề nghị bảo lĩnh, chấm dứt việc tạm giam đối với bị can, bị cáo, cùng các đơn thư đề nghị, kiến nghị khác.
  8. Thu thập và cung cấp các nguồn chứng cứ hợp pháp tới cơ quan tố tụng: Luật sư đã tiếp xúc lấy lời khai một số nhân chứng có lời khai gỡ tội; tiếp nhận chứng cứ nghe được (file ghi âm) để bóc nội dung, chuyển hóa chứng cứ gửi Cơ quan tiến hành tố tụng.
  9. Tham gia xét xử, tranh luận và bào chữa cho Bị cáo tại các phiên tòa xét xử công khai. Tổng cộng là 06 phiên toàn gồm Sơ thẩm lần 1, phúc thẩm lần 1; sơ thẩm lần 2, phúc thẩm lần 2 và Sơ thẩm lần 3, phúc thẩm lần 3.

hon da bay vong

QUAN ĐIỂM CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

Cơ quan tiến hành tố tụng tại Cấp sơ thẩm đều xác định Bị cáo là người có tội. Căn cứ trên lời khai nhận tội của Bị cáo và lời khai 02 nhân chứng do gia đình bị hại cung cấp là bằng chứng quan trọng xác định hành vi phạm tội của bị cáo.

Các lời khai của Bị cáo, cùng các nhân chứng kêu oan cho Bị cáo đều có sự mâu thuẫn, sự thay đổi nên không có căn cứ chấp thuận nội dung kêu oan của Bị cáo.

Cơ quan tiến hành tụng cấp Phúc thẩm sau 02 lần xét xử có chỉ ra các nội dung sai sót về tố tụng, hủy án sơ thẩm yêu cầu điều tra, xét xử lại. Đến lần xét xử phúc thẩm cuối cùng (Phúc thẩm lần 3) vẫn tuyên bị cáo có tội, phạt tù nhưng bằng đúng thời gian tạm giam của Bị cáo và trả lại tự do ngay sau khi kết thúc phiên tòa xét xử.

DIỄN BIẾN CHỨNG CỨ VÀ LỜI KHAI NHÂN CHỨNG

Vụ án có 02 nhân chứng có lời khai buộc tội. Theo lời khai của các hàng xóm láng riêng, người dân sinh sống lâu năm tại địa bàn phường nơi xảy ra vụ án cho biết thông tin 02 nhân chứng buộc tội có quan hệ mẹ con nhận với gia đình Người bị hại, nên có nhiều ý kiến khẳng định không tin tưởng sự có mặt của 02 nhân chứng buộc tội tại hiện trường.

Xem xét nội dung lời khai của 02 nhân chứng buộc tội thấy:

Người thứ nhất trong 02 tài liệu gồm (01 bản tự khai và 01 Biên bản lấy lời khai) đã khai: tôi thấy có khoảng 05 – 07 người đang đứng trước cổng nhà Bị cáo và có 01 chiếc xe ô tô tải màu xanh đang đứng trước cổng nhà. Lúc này con trai tôi điều khiển xe chở tôi vượt lên phía đầu xe, khi vừa vượt lên đâu xe khoảng 2m thì tôi quay lại để nhìn xem đang có việc gì xảy ra thì thấy (Bị cáo) đang đến gần cửa bên lái anh chiếc xe tải, trên tay phải của anh Huyền cầm 01 cục gạch bê tông sáng màu đạp vào cửa kính bên cánh lái của xe tải làm kính xe bị vỡ.

Người thứ hai trong 02 tài liệu gồm (01 bản tự khai và 01 Biên bản lấy lời khai) đã khai: tôi điều kiển xe vượt lên phía bên phải của xe ô tô tải trên và dừng ở phía trước đầu xe, cách đầu xe khoảng gần 03m, thấy: chị Bị cáo đang cãi nhau với Người bị hại, ngay sau đó tôi thấy Bị cáo đi từ phía trong nhà đi đến cánh cửa bên lái của xe Người bị hại, trên tay phải anh Huyền cầm 01 cục gạch giống như cục gạch màu xám, kích thước khoảng 15×10 đến sát cánh cửa bên lái của xe và đạp vào kính xe làm vỡ kính cửa lái của xe.

Lời khai của 02 nhân chứng này có nội dung mâu thuẫn nhau về diễn biến sự việc, nhưng được Cơ quan tố tụng đánh giá là thống nhất về nội dung về hành vi phạm tội.

Ngược lại, nhân chứng có lời khai gỡ tội cho Bị cáo có tất cả 06 người. Trong đó, lời khai chia ra làm các nội dung chính:

  • 01 Nhân chứng khẳng định nhìn thấy người khác thực hiện hành vi ném đá. Nhân chứng người hàng xóm liền kề với nhà Bị cáo. Tuy nhiên, nhân chứng này do ban đầu không muốn phải tham gia tố tụng nên đã có lời khai phủ nhận chứng kiến sự việc. Sau này, tới phiên tòa xét xử mới khai báo trước tòa về những sự việc mình nhìn thấy – nên bị cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá có mâu thuẫn trước – sau và không đáng tin cậy.
  • 03 nhân chứng khẳng định trực tiếp tham gia vào một cuộc nói chuyện với người thực tế thực hiện hành vi ném đá và lắng nghe lời thú tội, nhưng sau đó người ném đá không ra đầu thú với cơ quan tiến hành tố tụng.
  • 02 nhân chứng là người có mặt tại hiện trường khi hành vi phạm xảy ra, một người đứng ở đầu xe, một người đứng ở cuối xe. Mặc dù hai nhân chứng không được trực tiếp chứng kiến hành vi phạm tội của người ném đá, nhưng khẳng định tại hiện trường không có sự tham gia của 02 nhân chứng buộc tội.
  • Ngoài ra, còn lời khai của các nhân chứng là người thân trong gia đình của Bị can/bị cáo (05 người) nhưng không được Cơ quan tố tụng tin tưởng khi cho rằng không thể khách quan do có quan hệ thân thích.

QUAN ĐIỂM BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ

Qua quá trình nghiên cứu phân tích, bóc tách và tổng hợp các tình tiết diễn biến, hồ sơ chứng cứ trong vụ án, Luật sư đã bào chữa cho Bị cáo với các nội dung chính gồm:

  1. Lời buộc tội giữa Người bị hại và 02 nhân chứng buộc tội là hoàn toàn mâu thuẫn ở những tình tiết trọng yếu của vụ án và các chứng cứ vật chất khác của vụ án, như: vị trí nhặt viên bê tông, vị trí đứng ném, tư thế, hành động, hướng ném; vị trí với dừng đỗ của chiếc xe ô tô; tầm nhìn, vật cản (tường rào, cây trồng trước nhà) trong hướng và tầm quan sát của 02 nhân chứng buộc tội.
  2. Chứng cứ vật chất trong vụ án và vị trí đứng của Bị cáo thể hiện Bị cáo không thể đáp được một hòn bê tông năng hơn gần 20kg đi một đường cong, làm vỡ hai phần kính  vuông góc (kính lái và kính chắn gió sau ghế lái).Như hình mô tả sau:

Hon da bay vong.1

Và,

Hon da bay vong.2

3. Có sự bất công trong việc đánh giá giữa các lời khai gỡ tội và lời khai buộc tội: Lời khai  của Bị hại và 02 nhân chứng buộc tội được sử dụng với góc độ giản đơn. Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần hỏi họ có nhìn thấy Bị cáo hay không? họ bảo có là kết luận có, không cần phân tích “mổ xẻ”, xem xét họ nhìn thấy những hình ảnh gì, tình tiết diễn biến sự việc họ nhìn thấy có giống nhau về tương quan vị trí, diễn biến sự việc hay không?. Chưa kể 02 nhân chứng này thường xuyên tránh mặt không dám tham dự phiên tòa xét xử, đối diện với tất cả những người dân trong khu phố?.

Trong khi những lời khai của người gỡ tội lại chỉ chú tâm vào các nội dung mâu thuẫn giữa các bản khai, thay vì tôn trọng quy định của pháp luật về việc coi trọng những lời khai trực tiếp tại quá trình xét xử công khai. Đây là điều bất công trong đánh giá lời khai.

Tuy nhiên, Lời khai vốn dĩ là chứng cứ yếu nhất, bởi nó chịu ảnh hưởng của sự yêu ghét tình cảm và trí nhớ của người khai. Vì vậy không nên coi lời khai là chứng cứ buộc tội duy nhất nếu không đánh giá tới sự tương tích, liên quan với các chứng cứ khách quan có vụ án.

4. Thiếu xót trong việc khám nghiệm hiện trường. Cụ thể: Trong vụ án này, hiện trường vụ án, phương tiện xe oto cùng các dấu vết va chạm trong cabin xe (như vết kính vỡ trong ngoài cabin xe, vết máu, vết lỗ thủng trên hai phần kính cabin) là những chứng cứ khách quan không phụ thuộc vào ý chủ quan của bất kỳ một ai.

Tiếc rằng cái ô tô thì cơ quan Điều tra không thu giữ, dấu vết kính vỡ, mảnh kính vỡ văng không được chụp chiếu chuyển hóa thành chứng cứ đưa vào trong hồ sơ vụ án. Sơ đồ hiện trường thì bị làm sai lệch, sửa chữa, cắt gọt đi yếu tố vị trí hướng di chuỷen, tầm nhìn của các nhân chứng tại hiện trường. Sự thiếu xót đó đã tạo ra sự không toàn vẹn, khách quan khi đánh giá chứng cứ, cho thấy một quá trình điều tra không đầy đủ, không đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.

5. Việc thực nghiệm điều tra chỉ cổ súy cho bị Hại và nhân chứng buộc tội củng cố lời khai  buộc tội cho Bị cáo – Không dựng lại toàn bộ hiện trường với từng nhân chứng, ở từng vị trí của họ với những hướng nhìn góc quan sát của riêng họ?. từ đó chứng thực khả năng quan sát của họ và độ chân thực trong từng lời khai?.

6. Chiều cao của bị cáo so với chiều cao của bị hại khi ngồi trong xe? (xe cao 2,2m, bị cáo ngồi trong xe cách trần xe khoảng 30 -40m. Tức chiều cao bị hại khi ngồi trong xe là khoảng 1,9-1,8m sẽ cao hơn chiều cao của Bị cáo (1m72), nên khi đứng bằng mặt đất thì bị cáo chỉ có thể đáp hướng lên trên nóc xe oto.

Tất cả các bên đồng thuận là Bị cáo đúng thẳng với chốt cửa lái, mặt nhìn thẳng vào trong xe. Ở vị trí đó, thẳng mặt bị cáo chỉ có thể là cái thùng xe. Tay phải cầm đá cũng rơi xuống phía dưới chốt cửa, thẳng với phần thùng xe. Để đáp trúng mặt bị hại phải đáp chéo hướng lên trên phần kính phía trước, không thể làm vỡ phần kính phía sau cabin.

ĐỀ NGHỊ CỦA LUẬT SƯ

  • Đánh giá khách quan cho số phận cuộc đời bị cáo, cho lời hỏi ngây thơ của 02 đứa trẻ – con Bị cáo, khi chúng hỏi bố bị làm sao? Bao giờ bố về?.
  • Đánh giá thiện tình cho  lý lịch gia đình có truyền thống cách mạng đang bị những kẻ, những người man trá, bàng quan, vô lương tri trà đạp. Làm gì cũng nên để phúc phần về sau. Kết oan tạo oán kết cục sẽ không tốt đẹp gì đâu.
  • Đề nghị tuyên bố bị cáo vô tội và trả tự do ngay tại phiên tòa ngày hôm nay.

 

 

Tư vấn Luật

Đọc thêm

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Cùng chủ đề

Rà Soát Pháp Lý Dự Án Bất Động Sản Quy Mô Lớn – 01 Giải Pháp An Toàn Cho Chủ Đầu Tư

Dự án bất động sản là tập hợp những đề xuất đầu tư được hoạch định một cách bài bản, gắn liền với việc bỏ vốn trung và dài hạn nhằm cải tạo hoặc xây dựng mới những công trình kiến trúc, hạ tầng theo một mục tiêu đầu...

Ủy ban phường và Tòa khu vực tại tỉnh Quảng Ninh sau thời điểm ngày 01/07/2025

Dựa trên Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ninh, được ban hành bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 16 tháng 6 năm 2025, dưới đây là bảng tổng hợp các đơn vị hành chính...

Quan điểm bảo vệ trong vụ án tranh chấp đất đai 300m2 đất chồng lấn

Quan điểm bảo vệ là tài liệu ghi nhận ý kiến bảo vệ của Luật sư cho một bên đương sự khi tham gia tố tụng. Việc xây dựng quan điểm bảo vệ giúp Luật sư cụ thể hóa ý kiến, có bản tài liệu để cung cấp tới...

Chuẩn bị ly hôn – 5 hành động cần thực hiện

Chuẩn bị ly hôn là công tác cần thiết trước khi hành động cắt đứt một quan hệ gia đình. Sự đổ vỡ của hôn nhân sẽ đem lại nhiều hệ lụy về tiền bạc, tình cảm..

20 hướng dẫn của công văn 212/TANDTC-PC

Dưới đây là bảng tóm tắt nội dung Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao, bao gồm các vấn đề được hướng dẫn, nội dung hướng dẫn và căn cứ pháp lý áp dụng: STT Các vấn đề được hướng dẫn Nội dung hướng dẫn Căn cứ...

20 nội dung chính của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/04/2019

Công văn số 64/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao phát hành vào ngày 03/04/2019, ghi nhận các nội dung hướng dẫn về một số vướng mắc trong tố tụng. NỘI DUNG CHÍNH CÔNG VĂN 64/TANDTC-PC Bảng dưới đây là tóm lược các nội dung chính của Công văn do...

8 trường hợp không được đăng ký sang tên sổ đỏ

"Sang tên Sổ đỏ" trong luật gọi là đăng ký biến động quyền sử dụng đất là quá trình thay đổi thông tin người sử dụng đất từ người này sang người khác, được thể hiện qua việc thay đổi thông tin chủ sử dụng đất trên Sổ đỏ (Giấy...